ĐÒI NỢ TỪ NGƯỜI THÂN CỦA “CON NỢ” CÓ VI PHẠM PHÁP LUẬT KHÔNG?

Nền kinh tế toàn cầu suy giảm ảnh hưởng đến hầu hết các doanh nghiệp và người lao động. Nhiều người đã đi vay tiền để duy trì cuộc sống và công việc kinh doanh nhưng không có khả năng trả tiền dẫn đến việc nợ nần ngày càng nhiều. Vậy khi người vay tiền không trả được nợ thì bên vay có được đòi tiền từ người thân của “con nợ” không? Luật Phúc Cầu sẽ giúp Quý khách hàng giải đáp thắc mắc về vấn đề này qua tình huống sau đây:

Hỏi: Chào luật sư, tôi xin trình bày sự việc như sau: Anh trai tôi sinh năm 1990, có mở một cửa hàng kinh doanh trái cây sấy khô đóng hộp bán cho du khách trong và ngoài nước. Trước đó, công việc rất thuận lợi nhưng khi dịch bệnh xảy ra, công việc kinh doanh gặp khó khăn, hàng bị tồn đọng lại nhiều. Dù đã làm đủ mọi cách để duy trì cửa hàng nhưng vẫn không có hiệu quả, anh tôi buộc phải đóng cửa. Tuy nhiên, để có tiền trả cho nhân viên trước khi nghỉ và cũng phải trả tiền hàng, anh tôi đã vay tiền mà không cho gia đình tôi biết. Đến khi chủ nợ đến nhà đòi tiền và đưa ra hợp đồng cho vay, bố mẹ và tôi mới biết chuyện. Bên cho vay buộc bố mẹ tôi phải trả số tiền đó thay cho anh tôi. Nếu không trả nợ, họ sẽ gọi người đến gây rối gia đình tôi, không cho bố mẹ tôi buôn bán (gia đình tôi có mở đại lý bán hàng) cho đến khi trả tiền. Theo đó, tôi muốn hỏi luật sư, việc chủ nợ đến đòi tiền từ bố mẹ tôi có đúng với quy định của pháp luật không? Xin cảm ơn!

Trả lời: Xin cảm ơn câu hỏi của bạn đã gửi đến cho chúng tôi, Luật Phúc Cầu xin được tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

  • Bộ luật Dân sự 2015 – BLDS;
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) – BLHS;
  • Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình;

Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng cho vay như sau:

“Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Đồng thời Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 cũng có quy định rằng:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

…”

Với những quy định trên, có thể thấy rằng người nào vay tiền thì người đó phải trả nợ khi đã đến hạnpháp luật không quy định người thân phải trả tiền thay cho người đi vay nợ.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, giữa anh trai bạn và chủ nợ có giao kết hợp đồng cho vay. Vì người vay tiền là anh trai bạn – người có đủ năng lực hành vi dân sự và tự chịu trách nhiệm hành vi của mình nên chính anh trai bạn là người có trách nhiệm phải trả nợ. Hơn nữa, bố mẹ bạn không biết về việc anh trai bạn vay tài sản nên có thể nhận định rằng bố mẹ và anh bạn không có thỏa thuận bảo lãnh nào việc trả nợ thay. Vậy nên, giữa bố mẹ bạn và khoản nợ không có bất kỳ ràng buộc pháp lý nào và bố mẹ bạn không có nghĩa vụ phải trả tiền cho anh trai bạn. Việc chủ nợ yêu cầu bố mẹ bạn trả nợ thay như vậy là không đúng quy định pháp luật.

Trường hợp chủ nợ gọi người đến gây rối, không cho gia đình bạn buôn bán thì gia đình bạn có thể thu thập chứng cứ (trích xuất camera an ninh về việc gây rối hoặc làm chứng của hàng xóm, ghi âm cuộc gọi, chụp tin nhắn…) để làm đơn yêu cầu cơ quan chức năng tại nơi gia đình bạn sinh sống xử lý theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình.

Tùy vào mức độ của hành vi gây rối mà người phạm tội có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành vi gọi người đến gây rối này được xem là hành vi tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây rối mất trật tự xã hội và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 163/2013/NĐ-CP, cụ thể:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;

c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.

2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

b) Báo thông tin giả đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;

d) Ném gạch, đất, đá, cát hoặc bất cứ vật gì khác vào nhà, vào phương tiện giao thông, vào người, đồ vật, tài sản của người khác;

đ) Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng;

e) Để động vật nuôi gây thiệt hại tài sản cho người khác;

g) Thả diều, bóng bay, chơi máy bay, đĩa bay có điều khiển từ xa hoặc các vật bay khác ở khu vực sân bay, khu vực cấm; đốt và thả “đèn trời”;

h) Sách nhiễu, gây phiền hà cho người khác khi bốc vác, chuyên chở, giữ hành lý ở các bến tàu, bến xe, sân bay, bến cảng, ga đường sắt và nơi công cộng khác.

….”

Trường hợp hành vi của chủ nợ gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì có thể bị truy cứu TNHS về Tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

“Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng

1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng;

d) Xúi giục người khác gây rối;

đ) Hành hung người can thiệp bảo vệ trật tự công cộng;

e) Tái phạm nguy hiểm.”

—-Xem thêm: Không vay tiền nhưng bị đòi nợ làm thế nào?—-

Trên đây là phần tư vấn của Luật Phúc Cầu. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ luatsu@luatphuccau.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979