Trong thực tế, không ít người dân tự xây dựng nhà ở trên phần đất nông nghiệp do mình đang quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, việc có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất không đồng nghĩa với việc người sử dụng đất được tự do xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp.
Cơ sở pháp lý:
– Luật Đất đai năm 2024;
– Nghị định 112/2024/NĐ-CP hướng dẫn về đất trồng lúa.
1. Có được xây nhà trên đất nông nghiệp không?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 31 Luật Đất đai 2024 thì người sử dụng đất có nghĩa vụ sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng trong lòng đất và tuân thủ quy định khác của pháp luật có liên quan.
Tại khoản 3 Điều 178 Luật Đất đai 2024 có quy định người sử dụng đất nông nghiệp ngoài việc được chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi để sử dụng đất kết hợp đa mục đích theo quy định thì còn được sử dụng một diện tích đất theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp.
Dẫn chiếu đến quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị định 112/2024/NĐ-CP thì công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp là công trình phục vụ sơ chế, bảo quản nông sản; kho chứa vật tư nông nghiệp, máy móc, dụng cụ lao động; trưng bày, giới thiệu sản phẩm nông nghiệp.
Trong khi đó, nhà ở là công trình phục vụ mục đích ở và về nguyên tắc phải được xây dựng trên đất có mục đích sử dụng phù hợp.
Như vậy, người sử dụng đất không được tự ý xây dựng nhà ở trên đất nông nghiệp khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở.
Việc tự ý xây nhà trên đất nông nghiệp có thể bị xem là hành vi sử dụng đất không đúng mục đích và có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
—-Xem thêm: Thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất—-
2. Tự ý xây nhà ở trên đất nông nghiệp có thể bị xử lý thế nào?
Căn cứ khoản 2 Điều 10 Nghị định 123/2024/NĐ-CP thì hành vi chuyển đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất ở (để xây dựng nhà ở) thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức xử phạt như sau:
– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ dưới 0,01 héc ta;
– Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,01 héc ta đến dưới 0,03 héc ta;
– Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,03 héc ta đến dưới 0,05 héc ta;
– Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
– Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta trở lên.
Hành vi chuyển đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp thuộc địa giới hành chính của phường, thị trấn thì mức xử phạt bằng 02 lần mức phạt tương ứng với quy định trên.
Ngoài việc xử phạt hành chính, người vi phạm còn có thể bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất (tức là phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép) nếu không khắc phục theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Lưu ý: Mức phạt tiền quy định trên áp dụng đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân có cùng một hành vi vi phạm hành chính.
Kết luận:
Việc người dân đã xây dựng nhà trên đất nông nghiệp trong một thời gian dài không làm phát sinh đương nhiên quyền sử dụng đất ở. Việc có được công nhận đất ở hay không phải được xem xét dựa trên nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, thời điểm sử dụng, quy hoạch và các điều kiện pháp luật cụ thể.


