DOANH NGHIỆP VẪN HOẠT ĐỘNG TRONG THỜI GIAN BỊ THU HỒI GIẤY PHÉP KINH DOANH BỊ XỬ PHẠT THẾ NÀO?

Hiện nay, trong quá trình kinh doanh, một số doanh nghiệp hoạt động không đúng theo quy định của pháp luật dẫn tới việc bị thu hồi giấy phép kinh doanh. Dù trong thời gian bị thu hồi giấy phép nhưng doanh nghiệp vẫn tiến hành hoạt động bình thường. Vậy doanh nghiệp đó sẽ bị xử phạt thế nào? Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ cung cấp thông tin cho Quý khách hàng về trường hợp trên như sau:

Cơ sở pháp lý:

  • Luật Doanh nghiệp năm 2020;
  • Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư;

1. Thế nào là thu hồi giấy phép kinh doanh?

Thu hồi giấy phép kinh doanh là việc nhà nước không công nhận sự tồn tại tư cách pháp nhân của doanh nghiệp hay doanh nghiệp không còn có tư cách pháp nhân nữa.

2. Những trường hợp nào bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh?

Căn cứ theo quy định tại Điều 212 Luật Doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong các trường hợp sau:

– Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo;

– Doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 17 của Luật Doanh nghiệp năm 2020;

– Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế;

– Doanh nghiệp không gửi báo cáo về việc tuân thủ quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 khi xét thấy cần thiết; đôn đốc việc thực hiện nghĩa vụ báo cáo của doanh nghiệp đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản;

– Trường hợp khác theo quyết định của Tòa án, đề nghị của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của luật.

3. Doanh nghiệp vẫn hoạt động kinh doanh trong thời gian bị thu hồi giấy phép kinh doanh thì bị xử phạt thế nào?

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 16 Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì việc doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là một trong những hành vi bị nghiêm cấm.

Theo đó, tại điểm b khoản 4 Điều 46 Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này như sau:

“Điều 46. Vi phạm về thành lập doanh nghiệp

4. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

b) Tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu tạm ngừng kinh doanh, đình chỉ hoạt động, chấm dứt kinh doanh.

Trường hợp có vi phạm pháp luật về thuế thì xử lý theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.”

Như vậy, doanh nghiệp sẽ bị xử phạt hành chính từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng khi thực hiện hành vi tiếp tục kinh doanh sau khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

4. Ai có quyền xử phạt doanh nghiệp vẫn hoạt động kinh doanh trong thời gian bị thu hồi giấy phép kinh doanh?

Căn cứ tại khoản 3 Điều 74 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư quy định như sau:

“3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp; đến 300.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu, đầu tư; đến 500.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm trong lĩnh vực quy hoạch;

c) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Nghị định này.”

Như vậy, khi doanh nghiệp vẫn hoạt động kinh doanh trong thời gian bị thu hồi giấy phép kinh doanh sẽ bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xử phạt theo mức quy định trên.

5. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với doanh nghiệp vẫn hoạt động kinh doanh trong thời gian bị thu hồi giấy phép kinh doanh là bao lâu?

Theo Điều 5 Nghị định 122/2021/NĐ-CP quy định về thời hiệu và thời điểm xác định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính như sau:

“Điều 5. Thời hiệu và thời điểm xác định thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính

1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với lĩnh vực đầu tư, đấu thầu, đăng ký doanh nghiệp là 01 năm; đối với lĩnh vực quy hoạch là 02 năm.

2. Các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Điều 7; Điều 9; Điều 10; Điều 13; Điều 14; khoản 2 Điều 15; khoản 3 Điều 16; Điều 17; Điều 18; Điều 19; Điều 20; Điều 21; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 36; Điều 37; Điều 43; Điều 44; Điều 45; Điều 46; Điều 47; Điều 48; Điều 49; Điều 50; Điều 51; Điều 52; Điều 53; Điều 54; Điều 55; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 59; Điều 60; Điều 61; Điều 62; Điều 63; Điều 64; Điều 65; Điều 66; Điều 67; Điều 68, Điều 69; Điều 70; Điều 71 và Điều 72 của Nghị định này là hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện.

Đối với hành vi vi phạm đang thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp hành vi vi phạm đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.

3. Các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này (trừ các hành vi vi phạm hành chính quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 12 và Điều 25) là hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc.

Đối với hành vi vi phạm đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.”

Như vậy, thời hiệu xử phạt doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là 01 năm.

Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bài viết khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ luatsu@luatphuccau.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979