KHÔNG CỨU GIÚP NGƯỜI GẶP TAI NẠN GIAO THÔNG BỊ XỬ PHẠT THẾ NÀO?

An toàn giao thông luôn là vấn đề nhức nhối trong xã hội. Hiện nay, số lượng phương tiện tham gia giao thông ngày càng tăng, từ đó dẫn đến các vụ va chạm, tai nạn giao thông cũng ngày càng nhiều. Khi tai nạn xảy ra, nhiều trường hợp thấy người bị nạn nhưng đã lướt qua hoặc bỏ mặc do tâm lý e ngại sợ phiền. Vậy nếu không cứu giúp người gặp tai nạn giao thông (TNGT) khi có điều kiện thì bị xử lý như thế nào? Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ giải đáp thắc mắc trên cho Quý khách hàng:

Cơ sở pháp lý:

  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) – BLHS;
  • Luật giao thông đường bộ 2008;

1. Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông

Theo Điều 38 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông như sau:

– Người điều khiển phương tiện và những người liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:

+ Dừng ngay phương tiện; giữ nguyên hiện trường; cấp cứu người bị nạn và phải có mặt khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;

+ Ở lại nơi xảy ra tai nạn cho đến khi người của cơ quan công an đến, trừ trường hợp người điều khiển phương tiện cũng bị thương phải đưa đi cấp cứu hoặc phải đưa người bị nạn đi cấp cứu hoặc vì lý do bị đe dọa đến tính mạng, nhưng phải đến trình báo ngay với cơ quan công an nơi gần nhất;

+ Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn cho cơ quan có thẩm quyền.

– Những người có mặt tại nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm sau đây:

+ Bảo vệ hiện trường;

+ Giúp đỡ, cứu chữa kịp thời người bị nạn;

+ Báo tin ngay cho cơ quan công an, y tế hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất;

+ Bảo vệ tài sản của người bị nạn;

+ Cung cấp thông tin xác thực về vụ tai nạn theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

– Người điều khiển phương tiện khác khi đi qua nơi xảy ra vụ tai nạn có trách nhiệm chở người bị nạn đi cấp cứu. Các xe được quyền ưu tiên, xe chở người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự không bắt buộc thực hiện quy định tại khoản này.

– Cơ quan công an khi nhận được tin về vụ tai nạn có trách nhiệm cử người tới ngay hiện trường để điều tra vụ tai nạn, phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ và Ủy ban nhân dân địa phương bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn.

– Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra tai nạn có trách nhiệm kịp thời thông báo cho cơ quan công an, y tế đến để xử lý, giải quyết vụ tai nạn; tổ chức cứu chữa, giúp đỡ người bị nạn, bảo vệ hiện trường, bảo vệ tài sản của người bị nạn;

Trường hợp có người chết mà không rõ tung tích, không có thân nhân hoặc thân nhân không có khả năng chôn cất thì sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã hoàn tất các công việc theo quy định của pháp luật và đồng ý cho chôn cất, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức chôn cất.

Trường hợp vụ tai nạn vượt quá khả năng giải quyết, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải kịp thời báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp trên.

– Bộ Công an có trách nhiệm thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin về tai nạn giao thông đường bộ, cung cấp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

2. Không cứu giúp người bị TNGT là hành vi bị nghiêm cấm

Theo Điều 8 Luật Giao thông đường bộ 2008 (sửa đổi tại Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia 2019) có quy định về các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực giao thông đường bộ, gồm 23 hành vi. Trong đó, có các hành vi “Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người bị nạn và người gây tai nạn”, “Lợi dụng việc xảy ra tai nạn giao thông để hành hung, đe dọa, xúi giục, gây sức ép, làm mất trật tự, cản trở việc xử lý tai nạn giao thông”, “Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm”, “Khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị tai nạn giao thông”.

Như vậy, hành vi khi có điều kiện mà cố ý không cứu giúp người bị TNGT là hành vi vi phạm pháp luật.

3. Xử phạt đối với hành vi không cứu giúp người bị TNGT?

3.1. Xử phạt hành chính

Theo điểm a khoản 7 Điều 11 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định thì hành vi không cứu giúp người gặp TNGT khi có yêu cầu mà chưa đến mức truy cứu TNHS đối với cá nhân có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng; đối với tổ chức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

3.2. Truy cứu TNHS

Nếu hành vi không cứu người gặp tai nạn giao thông đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng theo Điều 132 BLHS như sau:

– Khung 1: Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết.

– Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

+ Người không cứu giúp là người đã vô ý gây ra tình trạng nguy hiểm;

+ Người không cứu giúp là người mà theo pháp luật hay nghề nghiệp có nghĩa vụ phải cứu giúp.

– Khung 3: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm đối với phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết.

– Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bài viết khiến Quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ luatsu@luatphuccau.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

 

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979