NHẶT ĐƯỢC CỦA RƠI KHÔNG TRẢ LẠI CÓ BỊ PHẠT KHÔNG?

Chúng ta thường hay nghe thấy, nhìn thấy những bản tin về những tấm gương trả lại tiền, tài sản đánh rơi cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, bên cạnh những tấm gương đó cũng có vài người vì lòng tham mà không trả lại tài sản cho người đánh mất. Vậy nếu nhặt được của rơi mà không trả lại thì có bị xử phạt không? Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ giải đáp thắc mắc đó cho Quý khách hàng được hiểu rõ vấn đề:

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật dân sự năm 2015 – BLDS;
  • Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – BLHS;
  • Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.

1. Nhặt được tài sản thì nên làm thế nào?

Theo Điều 230 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu.

2. Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:

a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;

…”

Với quy định trên, khi nhặt được tài sản người khác đánh rơi, người nhặt được phải xử lý như sau:

  • Trường hợp biết thông tin của chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc trả lại lại cho người đó;
  • Trường hợp không biết thông tin của chủ sở hữu tài sản thì phải thông báo hoặc giao nộp cho UBND cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết.

Tuy nhiên, nếu sau 01 năm kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì người nhặt có quyền xác lập quyền sở hữu với tài sản này như sau:

  • Tài sản bị đánh rơi nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được xác lập quyền sở hữu tài sản đó;
  • Tài sản bị đánh rơi lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;
  • Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử – văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.

2. Không trả lại tài sản nhặt được có bị xử phạt không?

Trường hợp người nhặt được tài sản cố tình không trả lại cho chủ sở hữu hoặc giao nộp cho UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã thì có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

Về xử phạt hành chính

Theo điểm đ khoản 2 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, trường hợp nhặt được tài sản của người khác mà không trả lại hoặc không giao nộp được xem là hành vi “chiếm giữ trái phép tài sản của người khác” và có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.

– Về truy cứu TNHS

Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật…thì có thể bị truy cứu TNHS về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo quy định tại Điều 176 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản

“1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

Như vậy, nếu người nhặt cố tình không trả lại hoặc không giao nộp cho cơ quan có thẩm quyền thì có thể bị truy cứu TNHS về Tội chiếm giữ trái phép tài sản với mức phạt là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

 

—-Xem thêm: Chuyển tiền nhầm tài khoản có lấy lại được không?—

 

Trên đây là phần tư vấn của Luật Phúc Cầu. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của Quý khách tới email luatsu@luatphuccau.com hoặc Tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979