Dưới tác động của suy thoái kinh tế, các công ty phải cắt giảm nhân sự dẫn đến một bộ phận người lao động mất việc làm rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Trước tình hình đó, xuất hiện nhiều hội nhóm chuyên thu mua sổ bảo hiểm xã hội của người lao động với giá trị thấp hơn thực tế. Đây là hành vi không được pháp luật cho phép và có thể bị xử phạt nặng. Hơn nữa, việc bán đi sổ bảo hiểm xã hội cũng sẽ tạo gánh nặng tương lai cho người lao động khi hết tuổi lao động. Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ cung cấp thông tin cho Quý khách hàng về chế tài xử phạt đối với hành vi mua bán sổ bảo hiểm xã hội.
Cơ sở pháp lý:
– Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – BLHS;
– Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;
– Nghị định 12/2022/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
1. Sổ bảo hiểm xã hội là gì?
Theo khoản 1 Điều 96 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định:
“1. Sổ bảo hiểm xã hội được cấp cho từng người lao động để theo dõi việc đóng, hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội là cơ sở để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật này.”
Như vậy, sổ BHXH là một loại sổ dùng để ghi chép quá trình đóng, hưởng các chế độ BHXH và là căn cứ quan trọng để cơ quan BHXH giải quyết chế độ cho người tham gia theo quy định pháp luật.
Mỗi người lao động sẽ chỉ được cấp 01 sổ bảo hiểm xã hội duy nhất, trong đó ghi nhận thời gian làm việc, quá trình đóng và hưởng bảo hiểm xã hội.
2. Có được mua bán sổ bảo hiểm xã hội không?
Căn cứ Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về tài sản như sau:
“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Theo đó, sổ bảo hiểm xã hội không phải là tài sản nên các giao dịch mua bán sổ BHXH được xem là không hợp pháp và sẽ bị xử phạt theo quy định pháp luật. Hơn nữa, khi mua bán sổ BHXH, người lao động còn chịu nhiều thiệt thòi khi giá trị mua lại thấp hơn giá trị thực tế của sổ.
3. Chế tài xử phạt đối với hành vi mua bán sổ bảo hiểm xã hội
Mua bán sổ bảo hiểm xã hội hiện nay có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc nặng hơn là truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
-
Xử phạt hành chính:
Nếu cơ quan BHXH phát hiện người lao động mang sổ bảo hiểm xã hội đi mua bán sau đó lại đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội cấp lại sổ với lý do bị mất, hỏng thì người lao động sẽ bị coi là kê khai hồ sơ không đúng sự thật
Căn cứ khoản 1 Điều 40 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, cụ thể như sau:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người lao động có một trong các hành vi vi phạm sau đây:
a) Kê khai không đúng sự thật hoặc sửa chữa, tẩy xóa làm sai sự thật những nội dung có liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Không thông báo với Trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định khi người lao động có việc làm trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp;
c) Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp không thông báo theo quy định với Trung tâm dịch vụ việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: có việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; hưởng lương hưu hằng tháng; đi học tậ p có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên.
…”
Theo đó, người lao động có hành vi mua bán sổ bảo hiểm xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
-
Xử lý hình sự:
Người lao động thực hiện việc mua bán sổ bảo hiểm xã hội còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu phát sinh hành vi gian lận để trục lợi từ BHXH.
Trường hợp này người lao động có thể bị truy cứu về tội gian lận bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 214 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng mà không thuộc trường hợp quy định tại một trong các điều 174, 353 và 355 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội;
b) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
d) Gây thiệt hại từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Theo đó, tuỳ vào mức độ vi phạm, người phạm tội có thể bị phạt tiền lên đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù lên đến 10 năm. Ngoài ra, còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
—Xem thêm: Người lao động cần làm gì khi công ty không đóng BHXH?—
Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bài viết khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ luatsu@luatphuccau.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
Trân trọng./


