ÁN LỆ SỐ 40/2021/AL VỀ CÔNG NHẬN VIỆC CHUYỂN ĐỔI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN THỰC TẾ

Trên thực tế có trường hợp: Đất được khai hoang nhưng chưa có Quyết định giao đất, Bên Khai Hoang chuyển đổi cho Một Bên Khác mà không đăng ký, kê khai. Sau đó Nhà nước thực hiện chính sách giao đất, các bên chuyển đổi đã thực hiện thủ tục kê khai và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các bên sử dụng ổn định, lâu dài mà không có bất kỳ khiếu nại nào.

Việc chuyển đổi quyền sử dụng đất như trên có được công nhận hay không? Luật Phúc Cầu sẽ giải đáp thông qua bài tổng hợp án lệ sau đây.

1. Nguồn án lệ

Quyết định giám đốc thẩm số 37/2019/DS-GĐT ngày 28/6/2019 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án dân sự “Tranh chấp thừa kế tài sản” tại tỉnh Thanh Hóa giữa các bên:

  • Nguyên đơn: ông Lê Văn C1, Lê Văn C2, bà Lê Thị M;
  • Bị đơn: ông Lê Văn D1, bà Nguyễn Thị T2;
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thị xã B và bà Lại Thị H.

2, Khái quát nội dung của án lệ

  • Tình huống án lệ:

Các bên chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế, không có thỏa thuận bằng văn bản; các bên đã sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp, đã đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nhận chuyển đổi.

  • Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, phải công nhận việc chuyển đổi quyền sử dụng đất trên thực tế; các bên có quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã chuyển đổi.

3. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ

  • Khoản 2 Điều 3 Luật Đất đai 1993 – Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất (tương ứng với khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai 2003; khoản 1 Điều 167 Luật Đất đai 2013)
  • Khoản 2 Điều 170 Bộ luật Dân sự 2005 – Căn cứ xác lập quyền sở hữu (tương ứng với khoản 2 Điều 221 Bộ luật Dân sự 2015).

4. Tóm tắt nội dung vụ án

Nguyên đơn là ông Lê Văn C1, ông Lê Văn C2 và bà Lê Thị M trình bày:

Khi cụ Lê Văn U kết hôn với cụ Nguyễn Thị K, cụ U đã có 03 con riêng (với người vợ đã chết) là ông Lê Quang T1, ông Lê Văn D1 và ông Lê Quang D2. Cụ U và cụ K có 03 con chung là ông Lê Văn C1, Lê Văn C2 và bà Lê Thị M.

Năm 1963, cụ U và cụ K rời xã Q, huyện H đi khai hoang vùng kinh tế mới tại làng L (nay thuộc thôn 5, xã T, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa) có mang theo 04 con là ông D2, ông C1, ông C2 và bà M. Khi đi hai cụ dỡ căn nhà bếp mang theo và để lại ngôi nhà 05 gian tại xã Q cho ông T1 và ông D1 sở hữu. Hai cụ khai hoang tạo lập được thửa đất số 986 tại thôn 5, xã T và xây dựng 05 gian nhà để sinh sống. Ông D2 đi bộ đội hy sinh năm 1972 chưa vợ con. Ông C1 và ông C2 nhập ngũ. Năm 1989, ông C1 về phục viên và năm 1992, ông C2 về phục viên.

Ông T1 kết hôn với bà Lê Thị C3, ông D1 kết hôn với bà Nguyễn Thị T2. Trong thời gian chung sống tại xã Q, bà C3 và bà T2 có mâu thuẫn nên năm 1983, bà T2 ra thị xã S xin ở với cụ U, cụ K và bà M.

Năm 1997, cụ U chết không có di chúc. Ngày 14/10/2003, cụ K nhận thấy anh em trong gia đình có sự mâu thuẫn về đất đai nên gọi ông C1, ông C2, bà M, ông T1 và ông D1 về họp gia đình với mục đích chia thừa kế đối với thửa đất số 986 tại thôn 5, xã T. Cuộc họp đã được chính ông D1 ghi biên bản với mục đích chia quyền sử dụng đất. Tại cuộc họp tất cả đều công nhận đất là của hai cụ tạo lập, để lại và đã xác định ranh giới, nhưng không thống nhất được cách chia, cụ thể cụ K, ông C1, ông C2 và bà M không đồng ý nhận 10m mặt đường theo ý kiến của ông D1.

Năm 2006, cụ K chết không để lại di chúc, anh em trong nhà có bàn bạc chia thừa kế tài sản của bố mẹ để lại, nhưng không thống nhất được, nên ông C1, ông C2 và bà M đã nhờ chính quyền thôn hòa giải vào ngày 22/8/2008. Ngày 10/10/2010, ông D1 thừa nhận ra ở tại khu đất đang tranh chấp từ năm 1984 đến nay.

Ông C1, ông C2 và bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C364176 đứng tên hộ gia đình bà T2 tại thôn 5, xã T; để lại 116m2 đất thửa số 986 làm nhà thờ hai cụ, phần còn lại chia thừa kế cho các ông bà. Đối với các công trình trên đất và gần 20m mặt đường ông D1 đã bán khi hai cụ còn sống, các nguyên đơn không yêu cầu đòi lại và không yêu cầu chia thừa kế.

Bị đơn là ông D1, bà T2 trình bày:

Thửa đất các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế không phải là đất của bố mẹ để lại. Đất này vợ chồng ông D1, bà T2 đã dùng 2.112m2 đất thửa số 288 tờ bản đồ 299 trong bản đồ địa chính xã T là đất ông bà được xã cấp năm 1982 để đổi cho cụ U và cụ K lấy thửa số 986 (là thửa số 40 theo bản đồ năm 1997), đã là đất đổi thửa thì không còn là đất của hai cụ và hiện nay vợ chồng ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đề nghị cấp có thẩm quyền thu hồi thửa đất số 288, chủ sử dụng đất là hai cụ. Thửa đất này ông C1 đã tự chuyển nhượng cho anh Trịnh Văn T3 là bất hợp pháp, vì không có sự bàn bạc của các thành viên trong gia đình trong đó có ông D1. Thửa đất số 288 hai cụ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng vào năm 1994 mới là đất hai cụ để lại để chia thừa kế.

Các biên bản hòa giải nguyên đơn nộp kèm đơn khởi kiện là không khách quan, không đúng pháp luật, vì gia đình ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1994 đến nay đã hơn 20 năm. Trước khi gia đình ông bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không ai có tranh chấp.

Ngày 27/5/2016, TAND thị xã Bỉm Sơn ban hành Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2016/DSST.

Ngày 08/6/2016, ông D1 và bà T2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 85/2016/DSPT ngày 16/9/2016, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định: Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 04/2016/DSST ngày 27/5/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn.

Ngày 30/12/2016, Công ty luật trách nhiệm hữu hạn N (là người bảo vệ quyền lợi cho ông D1) và ông D1, bà T2 có đơn đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm.

Tại Quyết định kháng nghị số 06/2019/KN-DS ngày 14/02/2019, Chánh án TAND cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2016/DSST ngày 27/5/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa; giao hồ sơ vụ án cho TAND thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của Chánh án TAND cấp cao tại Hà Nội. Nhiều năm sau, cụ U, cụ K dần dần qua đời mà không để lại di chúc. Trong nội bộ gia đình có tổ chức các buổi họp để thỏa thuận về việc phân chia di sản thừa kế, tài sản chung, nhưng không thể thống nhất, dẫn đến xung đột tài sản. Vấn đề chủ yếu xoay quanh một mảnh đất rộng lớn được đứng tên quyền sử dụng với hộ gia đình ông D1, bà T2, đã từng được cả nhà sử dụng trong quá khứ, ở cả đất thổ cư, đất nông nghiệp. Từ đây, do không thể thương lượng, ngày 18 tháng 2 năm 2014, nguyên đơn là ba người con chung Lê Văn C1, Lê Văn C2 và Lê Thị M đệ đơn khởi kiện bị đơn là vợ chồng con riêng, tức ông D1, bà T2. Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn đã thụ lý vụ án và xét xử. Lần lượt sơ thẩm ở thị xã, phúc thẩm ở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa rồi kháng nghị, giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, vụ án mới được nhận định và quay trở lại sơ thẩm.

5. Nội dung án lệ

Nội dung của án lệ số 40/2021/AL được trích từ đoạn 8, 9 phần Nhận định của Tòa án trong Quyết định giám đốc thẩm số 37/2019/DS-GĐT ngày 28/6/2019 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao Hà Nội, cụ thể như sau:

“[8] Như vậy, với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy việc giao đất cho các hộ nông dân của xã T là thực hiện theo chính sách của Nhà nước và được lập hồ sơ công khai. Khi Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân thị xã B thực hiện chính sách giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 716 hộ nông dân của xã T, trong đó có hộ cụ U và hộ bà T2, cụ U và cụ K đều còn sống nhưng không có đơn, không kê khai đối với thửa đất đang tranh chấp, hai cụ chỉ kê khai đối với thửa đất số 325 (theo ông D1, bà T2 khai là thửa đất đổi cho hai cụ) và hai cụ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này, hộ bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa số 986a (là thửa 986 đang tranh chấp). Mặt khác, sau khi hộ bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất đang tranh chấp không có ai khiếu nại; chỉ đến năm 2008, khi cụ U, cụ K đã chết mới xảy ra tranh chấp giữa các con của hai cụ. Do đó, có căn cứ xác định cụ U và cụ K đã đổi đất cho bà T2, ông D1.

[9] Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng theo bản đồ 299 năm 1985, cụ K, cụ U là người sử dụng đất đang tranh chấp, nên đất đang tranh chấp là di sản của cụ U, cụ K và đã chia thừa kế đất của cụ K là không đúng.”

6. Sự cần thiết của án lệ

Án lệ đã công nhận giao dịch chuyển đổi đất thực tế, không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao trong quá trình thực hiện chính sách giao đất của Nhà nước trên cơ sở kê khai, đăng ký công khai, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có khiếu kiện, khiếu nại tại thời điểm kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp cho bên nhận chuyển đổi quyền sử dụng đất.

7. Trường hợp tương tự áp dụng án lệ

Các trường hợp tương tự áp dụng nội dung của án lệ số 40 để giải quyết có thể kể đến như sau:

  • Các bên chuyển đổi đất đã sử dụng đất chuyển đổi và đã kê khai việc sử dụng đất với cơ quan có thẩm quyền khi Nhà nước thực hiện chính sách giao đất, cấp đất theo chính sách và pháp luật đất đai;
  • Các bên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
  • Không có khiếu nại đối với việc kê khai, giao, cấp đất và cấp GCNQSDĐ tại các thời điểm tương ứng.

Trong quá trình xét xử phải “bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau”. (Theo Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979