Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ tổng hợp những lưu ý về việc chia di sản thừa kế cho Quý Khách hàng nắm thông tin:
Cơ sở pháp lý:
1. Xác định di sản thừa kế
Di sản thừa kế bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
– Đối với tài sản riêng của người chết:
Tài sản riêng của cá nhân là những tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng và giá trị. Tài sản riêng của cá nhân có thể được hình thành từ các nguồn như thu nhập từ lao động sản xuất, kinh doanh, được tặng cho riêng, được thừa kế riêng, quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ, thu nhập khác… Khi cá nhân chết đi, tài sản thuộc sở hữu riêng là bộ phận của di sản thừa kế.
– Đối với phần tài sản của người chết nằm trong tài sản chung với người khác:
+ Trường hợp thuộc tài sản chung của hộ gia đình: Khi có yêu cầu chia di sản thì cần xác định phần quyền của người để lại di sản trong khối tài sản chung là quyền sử dụng đất của hộ gia đình.
+ Trường hợp thuộc tài sản chung của vợ chồng: Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
+ Trường hợp thuộc tài sản chung với nhiều người khác (cùng mua): Phần quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp này được xác định theo phần (sở hữu chung theo phần – mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác).
2. Xác định thời điểm mở thừa kế
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết hoặc thời điểm được Toà án tuyên bố người này đã chết.
Lưu ý: Việc xác định thời điểm cá nhân chết thường căn cứ vào giấy chứng tử. Tuy nhiên, nhiều trường hợp thực tiễn xét xử còn căn cứ vào ngày trên bia mộ hay tập quán địa phương.
3. Xác định thời hiệu thừa kế
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Nếu không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
– Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu;
– Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu theo quy định.
Dẫn chiếu đến Điều 236 BLDS quy định:
“Điều 236. Xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật
Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.”
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
4. Xác định người thừa kế
4.1. Người thừa kế theo di chúc
Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc. Theo đó, những người có tên trong di chúc sẽ được phân chia di sản.
Ngoài ra, những người sau đây vẫn được hưởng di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất đó:
– Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
– Con thành niên mà không có khả năng lao động.
Tuy nhiên, quy định này không được áp dụng nếu những người không phụ thuộc vào nội dung di chúc từ chối thừa kế.
—Xem thêm: Thủ tục lập di chúc—
4.2. Người thừa kế theo pháp luật
Trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, di sản sẽ được chia theo pháp luật.
Những người hưởng thừa kế theo pháp luật được xác định theo thứ tự sau:
– Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
– Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
– Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Cũng cần lưu ý, những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
—Xem thêm: Quy định về chia thừa kế theo pháp luật—


