QUY ĐỊNH VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Tranh chấp về thừa kế là một trong những tranh chấp dân sự phổ biến. Loại tranh chấp này thường diễn ra giữa những người thân trong gia đình, những người có chung mối quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng. Di sản thừa kế có thể được chia theo di chúc hoặc chia theo quy định của pháp luật. Trường hợp người có di sản chết nhưng không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp… thì được áp dụng chia thừa kế theo pháp luật.  Mặc dù, pháp luật quy định cụ thể về việc phân chia hàng thừa kế nhưng trong quá trình phân chia di sản vẫn xảy ra tranh chấp. Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ cung cấp thông tin cho Quý khách hàng hiểu rõ hơn về quy định chia thừa kế theo pháp luật

Cơ sở pháp lý: 

  • Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS); 

1. Thừa kế theo pháp luật

Theo Điều 649 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.”

Như vậy, trong trường hợp này, pháp luật quy định trực tiếp những người có quyền hưởng thừa kế, phân định di sản thừa kế cho những người cùng hàng và điều kiện, trình tự thừa kế trong quá trình dịch chuyển di sản của người chết để lại.

Những người thừa kế theo pháp luật phải là người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản thừa kế. Mọi cá nhân bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế của người chết, thực hiện nghĩa vụ mà người chết chưa thực hiện trong phạm vi tài sản nhận.

2. Các trường hợp chia thừa kế theo pháp luật

Theo quy định của pháp luật thừa kế, những trường hợp sau đây chia thừa kế theo pháp luật:

  • Người để lại di sản không có di chúc

Trường hợp người để lại di sản có di chúc hợp pháp, di sản sẽ được phân chia theo ý chí và nguyện vọng của người đó.

Tuy nhiên, có nhiều trường hợp được xem là không có di chúc sau: người để lại di sản chết đột ngột, không kịp để lại di chúc hoặc kể từ thời điểm mở thừa kế, bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc…

  • Di chúc không hợp pháp

Căn cứ khoản 1 Điều 630 BLDS 2015 quy định về di chúc hợp pháp khi đáp ứng các điều kiện sau:

+ Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

+ Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Như vậy, di chúc không hợp pháp là trường hợp di chúc không đáp ứng điều kiện quy định nêu trên. Tùy vào phạm vi vi phạm mà di chúc có thể bị vô hiệu toàn phần hoặc vô hiệu một phần.

Đối với di chúc vô hiệu toàn phần, di chúc sẽ không làm phát sinh quan hệ thừa kế và sẽ áp dụng chia theo pháp luật.

Còn di chúc được xem là vô hiệu một phần nếu nội dung của nó chỉ có một phần không hợp pháp và phần không hợp pháp đó không ảnh hưởng đến hiệu lực của những phần còn lại. Theo đó, chỉ có phần nội dung không hợp pháp là áp dụng chia theo pháp luật, những phần còn lại vẫn có giá trị hiệu lực và vẫn được chia theo di chúc.

  • Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Nếu những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, các cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc đều không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì toàn bộ di sản của người lập di chúc được dịch chuyển toàn bộ cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó. Nếu chỉ một hoặc một trong số người thừa kế chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan đến họ mới áp dụng thừa kế theo pháp luật.

  • Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản khi thuộc các trường hợp sau:

  • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
  • Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
  • Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
  • Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Theo đó, khi thuộc một trong các trường hợp không có quyền hưởng di sản, phần di sản mà những người này được hưởng sẽ áp dụng chia theo pháp luật. Tuy nhiên, họ vẫn sẽ được hưởng di sản nếu người để lại di sản biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Quy định này nhằm tôn trọng quyền và ý chí của người để lại di sản trong việc lập di chúc.

Bên cạnh đó, người thừa kế theo di chúc có quyền nhận hoặc từ chối di sản thừa kế. Việc từ chối nhận di sản chỉ được công nhận khi phù hợp với các quy định của pháp luật. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc từ chối nhận di sản, phần di sản liên quan đến họ sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác.

  • Phần di sản: Không được định đoạt trong di chúc; có liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực; có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế.… thì sẽ được chia thừa kế theo pháp luật .

3. Người nhận thừa kế theo pháp luật

Theo quy định của pháp luật thừa kế, những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

  • Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
  • Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
  • Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Nếu không còn ai nhận thừa kế thì di sản sẽ thuộc về Nhà nước.

4. Thừa kế thế vị

Theo Điều 652 BLDS 2015 quy định về thừa kế thế vị trong trường hợp: “con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.”

Với quy định trên, việc xác định thừa kế thế vị khi Con/cháu của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu/chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu/chắt được hưởng nếu còn sống. Tuy nhiên, trường hợp con của người để lại di sản là người bị tước quyền hưởng di sản thì cháu/chắt không được hưởng thừa kế thế vị thay cha, mẹ của cháu đối với di sản của ông, bà,

Trường hợp con nuôi và cha, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và cháu của con nuôi cũng được hưởng thừa kế thế vị thay cha nuôi, mẹ nuôi nếu họ chết trước hoặc cùng thời điểm với ông, bà nuôi.

Ngoài ra, trường hợp con riêng của vợ/ chồng đối với cha kế/mẹ kế cũng được hưởng thừa kế theo pháp luật nếu có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng được thể hiện ở những mối quan hệ sau: không có sự phân biệt giữa con riêng hay con chung, được hưởng sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục như con chung.

7Việc thừa kế trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung; vợ, chồng đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với người khác.

Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.

Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.

Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ pclawfirm.vn@gmail.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979 Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *