BỎ LẠI PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG KHI VI PHẠM XỬ LÝ THẾ NÀO?

Nghị định 168/2024/NĐ-CP về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ được ban hành, mức phạt đối với người điều khiển các phương tiện vi phạm giao thông tăng lên nhiều lần so với trước. Từ đó, một số người có suy nghĩ bỏ lại phương tiện khi bị phạt, vì có thể điều kiện kinh tế của họ không đủ khả năng để nộp phạt và giá trị xe không bằng mức tiền phạt phải nộp. Vậy việc bỏ lại phương tiện có giúp người vi phạm tránh được trách nhiệm nộp phạt không? Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ giải đáp thắc mắc cho Quý khách hàng về quy định xử phạt hành chính đối với hành vi bỏ lại phương tiện khi vi phạm an toàn giao thông đường bộ của pháp luật.

Cơ sở pháp lý

1. Bỏ lại phương tiện trốn tránh, trì hoãn không đóng phạt có được không?

Trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của người vi phạm tại Điều 74 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung 2020) quy định thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định. Trong tường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên sẽ được tính kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh.

Như vậy, nếu người vi phạm trốn tránh không nộp phạt đúng hạn có thể bị cưỡng chế bằng các biện pháp cưỡng chế căn cứ theo Điều 86 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung 2020):

“Điều 86. Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

2. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;

b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.

d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.”

Căn cứ theo khoản 1 điều 73 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung 2020), cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận quyết định. Trường hợp quyết định xử phạt vi phạm hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung 2020), khi hết thời hạn nêu trên mà người có hành vi vi phạm vẫn không thực hiện nghĩa vụ nộp phạt của mình, thì cứ mỗi ngày chậm nộp phạt sẽ phải nộp thêm 0,05% tổng số tiền phạt chưa nộp.

Ngoài ra, Tại điểm d khoản 2 Điều 43 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024, tổ chức, cá nhân vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, mà chưa thực hiện xong yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết vụ việc vi phạm hành chính, thì chưa được giải quyết đăng ký, đăng kiểm phương tiện khác.

Đồng thời, khoản 4 Điều 62 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ 2024 cũng quy định chưa cấp, đổi, cấp lại giấy phép lái xe đối với người vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường bộ khi chưa thực hiện xong yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết vụ việc vi phạm hành chính.

Như vậy, đối với các xe vi phạm chưa giải quyết nộp phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và sẽ không được đăng ký, đăng kiểm đồng thời người vi phạm cũng sẽ không được cấp lại, đổi bằng lái.

2. Khi nào bị tịch thu xe máy vi phạm?

Những người tham gia giao thông vi phạm những lỗi thuộc khoản 11 Điều 7, khoản 5 Điều 14 Nghị định 168/2024/NĐ-CP sẽ bị xử phạt tịch thu phương tiện:

  • Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe;
  • Dùng chân điều khiển xe;
  • Ngồi về một bên điều khiển xe;
  • Nằm trên yên xe điều khiển xe;
  • Thay người điều khiển khi xe đang chạy;
  • Quay người về phía sau để điều khiển xe;
  • Bịt mắt điều khiển xe;
  • Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;
  • Tái phạm hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng trên đường bộ;
  • Điều khiển loại xe sản xuất, lắp ráp trái quy định tham gia giao thông;
  • Điều khiển xe không có chứng nhận đăng ký xe);
  • Sử dụng chứng nhận đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, không đúng số khung, số động cơ (số máy) của xe hoặc bị tẩy xóa mà không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của phương tiện (không có giấy tờ, chứng nhận nguồn gốc xe, chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp).

Ngoài ra, căn cứ khoản 1 Điều 125 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau:

“Điều 125: Tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính

a) Để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt. Trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng quy định củakhoản 3 Điều 60 của Luật này;

b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;

c) Để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 Điều này.”

3. Xử lý xe máy bị bỏ lại quá thời hạn tạm giữ?

Phương tiện hết thời hạn tạm giữ mà người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận mà không có lý do chính đáng, sẽ được xử lý theo quy định tại khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung 2020):

“Điều 126: Xử lý tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính:

…

4a. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 125 của Luật này khi hết thời hạn thi hành quyét định xử phạt mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không thi hành quyết định xử phạt thì trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cho người có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt để quyết định ciệc kê biên, bán đấu giấ theo quy định của pháp luật để đảm bảo thi hành quyết định xử phạt.

…”

Cũng theo Điều 106 Luật quản lý, sử dụng tài sản công 2017, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được xác lập quyền sở hữu toàn dân. Đồng thời, việc bán tài sản tịch thu được thực hiện theo pháp luật về đấu giá tài sản.

Vậy, khi phương tiện hết thời hạn tạm giữ mà người vi phạm không đến nhận lại phương tiện thì phương tiện đó sẽ bị kê biên và bán đấu giá theo quy định của pháp luật.

—XEM THÊM: Điểm mới Luật Trật tự, an toàn giao thông 2024—

Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bài viết khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ pclawfirm.vn@gmail.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979