NGƯỜI NƯỚC NGOÀI PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ KHÔNG?

Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, Việt Nam trở thành điểm đến du lịch thu hút nhiều khách nước ngoài. Tuy nhiên, nhiều đối tượng xấu lợi dụng điều này để thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Vậy theo pháp luật Việt Nam thì người nước ngoài phạm tội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Trường hợp bỏ trốn, Việt Nam sẽ xử lý như thế nào? Trường hợp nào thì người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam có thể bị dẫn độ về nước? Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ giải đáp thắc mắc trên cho Quý khách hàng:

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;
  • Luật Tương trợ tư pháp 2007.

1. Quy định về những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 về Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

“1. Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quy định này cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.”

Như vậy, khi người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ xử lý theo một trong hai trường hợp sau:

– TH1: Đối với người nước ngoài không thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc thì thì hanh vi phạm tội của họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam

– TH2: Đối với người nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó.

Trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Ngoài các trường hợp nêu trên, mọi hành vi phạm tội (kể cả người nước ngoài) bao gồm cả hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam thì đều bị xử lý hình sự theo quy định pháp luật của Việt Nam.

2. Người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam có thể bị dẫn độ về nước không?

Đối với trường hợp có căn cứ cho thấy người nghi ngờ phạm tội bỏ trốn khỏi lãnh thổ Việt Nam, cơ quan điều tra cùng các cơ quan có thẩm quyền sẽ phối hợp, liên kết với Interpol hoặc các quốc gia mà Việt Nam ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp để truy nã quốc tế, bắt và dẫn độ về nước.

Theo Điều 32 Luật Tương trợ tư pháp 2007 quy định: Dẫn độ là việc một nước chuyển giao cho nước khác người có hành vi phạm tội hoặc người bị kết án hình sự đang có mặt trên lãnh thổ nước mình để nước được chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án đối với người đó trên cơ sở yêu cầu của nước có người bị dẫn độ.

Và theo quy định tại Điều 33 Luật Tương trợ tư pháp 2007 về Trường hợp bị dẫn độ:

“1. Người có thể bị dẫn độ theo quy định của Luật này là người có hành vi phạm tội mà Bộ luật hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự của nước yêu cầu quy định hình phạt tù có thời hạn từ một năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị Tòa án của nước yêu cầu xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù còn lại ít nhất sáu tháng.

2. Hành vi phạm tội của người quy định tại khoản 1 Điều này không nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước yêu cầu.

3. Trường hợp hành vi phạm tội của người quy định tại khoản 1 Điều này xảy ra ngoài lãnh thổ của nước yêu cầu thì việc dẫn độ người phạm tội có thể được thực hiện nếu theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hành vi đó là hành vi phạm tội.”

Như vậy, người nước ngoài có thể bị dẫn độ về nước khi có hành vi phạm tội mà Bộ luật Hình sự Việt Nam và pháp luật hình sự của nước yêu cầu quy định hình phạt tù từ 01 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị Tòa án nước yêu cầu xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt còn lại ít nhất 06 tháng.

Ngoài ra, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có quyền từ chối dẫn độ nếu yêu cầu dẫn độ thuộc một trong các trường hợp theo Điều 35 Luật tương trợ tư pháp 2007:

– Người bị yêu cầu dẫn độ là công dân Việt Nam.

– Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người bị yêu cầu dẫn độ không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành hình phạt do đã hết thời hiệu hoặc vì những lý do hợp pháp khác.

– Người bị yêu cầu dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự đã bị tòa án của Việt Nam kết tội bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật về hành vi phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ hoặc vụ án đã bị đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.

– Người bị yêu cầu dẫn độ là người đang cư trú ở Việt Nam vì lý do có khả năng bị truy bức ở nước yêu cầu dẫn độ do có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, giới tính, quốc tịch, dân tộc, thành phần xã hội hoặc quan điểm chính trị.

– Trường hợp yêu cầu dẫn độ có liên quan đến nhiều tội danh và mỗi tội danh đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước yêu cầu dẫn độ nhưng không đáp ứng các quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật tương trợ tư pháp 2007.

– Hành vi mà người bị yêu cầu dẫn độ không phải là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam, người bị yêu cầu dẫn độ đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở Việt Nam về hành vi phạm tội được nêu trong yêu cầu dẫn độ.

Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam từ chối dẫn độ theo quy định nêu trên có trách nhiệm thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước yêu cầu dẫn độ.

3. Hình phạt trục xuất dành cho người nước ngoài

Hình phạt được áp dụng đối với người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam sẽ tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và hậu quả của hành vi phạm tội. Trong đó, trục xuất là hình phạt riêng dành cho người phạm tội là người nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Hình sự : “Trục xuất là việc buộc người nước ngoài đã bị kết án phải rời lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Như vậy, trục xuất có thể được Tòa án áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung tùy trường hợp cụ thể.

Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bài viết khiến Quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ pclawfirm.vn@gmail.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979