QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XÓA ÁN TÍCH

Người bị kết án (phạm nhân) là người hoặc pháp nhân đã có hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự và bị kết án bằng Bản án hoặc Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Những người này sau khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và trải qua thời gian thử thách sẽ được xóa án tích. Tuy nhiên, hiện nay nhiều người vẫn chưa hiểu hoặc chưa biết đến các quy định của pháp luật về xóa án tích. Bài viết sau đây của Luật Phúc Cầu sẽ giải đáp một số vấn đề xoay quanh quy định về xóa án tích.

Cơ sở pháp lý:

  • Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS);
  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021 (BLTTHS);

1. Án tích là gì?

Hiện nay pháp luật chưa có quy định về khái niệm án tích. Tuy nhiên có thể hiểu, án tích là hậu quả pháp lý của việc phạm tội và là một trong những hình thức thực hiện trách nhiệm hình sự. Đây là đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết án nhưng không có tính vĩnh viễn. Án tích tồn tại trong quá trình người phạm tội bị kết án về một tội phạm cho đến khi được xóa án tích.

Tại Điểm g Khoản 1 Điều 3 BLHS quy định: “Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.”

Như vậy, sau khi chấp hành bản án, trải qua một thời hạn nhất định và đáp ứng được các điều kiện của pháp luật, người có án tích sẽ được xóa án tích. Người được xóa án tích được coi là người chưa bị kết án.

2. Chủ thể được xóa án tích

Pháp luật hình sự quy định Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự (khoản 1 Điều 8 BLHS).

Như vậy, dựa vào quy định trên thì chủ thể được xóa án tích sau khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và trải qua thời gian thử thách bao gồm người có năng lực trách nhiệm hình sự và pháp nhân thương mại.

3. Quy định của pháp luật về xóa án tích

3.1. Xóa án tích đối với chủ thể là người phạm tội

Theo quy định tại Điều 69 BLHS thì người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 của BLHS và người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.

Đối với người phạm tội thì có 03 trường hợp được xóa án tích, cụ thể như sau:

 – Trường hợp 1: Đương nhiên được xóa án tích

Theo quy định tại khoản 1 Điều 70 BLHS thì đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

Về điều kiện đương nhiên được xóa án tích thì khoản 2 và khoản 3 của Điều 70 BLHS quy định:

+ Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: (i) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; (ii) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; (iii) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; (iv) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

+ Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều 70 BLHS thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

+ Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 70 thì những người đương nhiên được xóa án tích thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 70 BLHS.

– Trường hợp 2: Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

Theo quy định tại khoản 1 Điều 71 BLHS thì xóa án tích theo quyết định của Tòa án được áp dụng đối với người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này. Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, thái độ chấp hành pháp luật, thái độ lao động của người bị kết án và các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.

Về điều kiện xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì khoản 2 của Điều 71 BLHS quy định:

Người bị kết án được Tòa án quyết định việc xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: (i) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; (ii) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; (iii) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; (iv) 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 71 thì Tòa án quyết định việc xóa án tích từ khi người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 71 thì những người có đơn xin xóa án tích nếu bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu thì sau 01 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì sau 02 năm kể từ ngày bị Tòa án bác đơn mới được xin xóa án tích.

– Trường hợp 3: Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó cư trú đề nghị, thì Tòa án quyết định việc xóa án tích nếu người đó đã bảo đảm được ít nhất một phần ba thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 71 của BLHS.

3.2. Xóa án tích đối với chủ thể là pháp nhân thương mại phạm tội

Pháp nhân thương mại là một chủ thể mới của tội phạm, BLHS đã dành ra một chương để quy định về pháp nhân thương mại phạm tội. Trong đó pháp nhân thương mại cũng có quy định về việc xóa án tích đối với chủ thể này. Căn cứ Điều 89 BLHS thì “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”. Như vậy, trong thời hạn 02 năm kể từ khi pháp nhân thương mại chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, quyết định khác của bản án hoặc khi đã chấp hành xong bản án mà không phạm tội mới thì sẽ đương nhiên được xóa án tích.

4. Cách tính thời hạn được xóa án tích

Căn cứ Điều 73 BLHS quy định về “Cách tính thời hạn để xóa án tích” như sau:

“Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích

1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

2. Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

3. Người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, có tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì căn cứ vào thời hạn quy định tại Điều 71 của Bộ luật này Tòa án quyết định việc xóa án tích đối với người đó.

4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt”.

Như vậy, đối với trường hợp đương nhiên được xóa án tích và trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án thì sẽ căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên để để xem xét xóa án tích theo quy định. Các hình phạt chính đã tuyên là các hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 32 BLHS đối với người phạm tội bao gồm: Cảnh cáo; Phạt tiền; Cải tạo không giam giữ; Trục xuất; Tù có thời hạn; Tù chung thân; Tử hình. Còn đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì các hình phạt chính bao gồm: Phạt tiền; Đình chỉ hoạt động có thời hạn; Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

Ngoài ra, những trường hợp chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới thì thời hạn tính xóa án tích sẽ được tính lại từ đầu kể từ khi chấp hành xong bản án mới hoặc hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành. Trong trường hợp phạm nhiều tội mà trong đó có tội đương nhiên được xóa án tích, cũng có tội xóa án tích theo quyết định của bản án thì thời hạn tính xóa án tích sẽ được Tòa án căn cứ vào Điều 71 BLHS để ra quyết định xóa án tích. Đối với người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.

5. Thủ tục xóa án tích

5.1. Trường hợp đương nhiên được xóa án tích

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của BLHS thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích.

5.2. Trường hợp xóa án tích theo quyết định của Toà án

Những trường hợp quy định tại Điều 71 và Điều 72 của BLHS thì việc xóa án tích do Tòa án quyết định. Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.

Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xóa án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản và chuyển lại tài liệu cho Tòa án. Nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích.

Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định này cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.

Trên đây là toàn bộ những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về xóa án tích và thủ tục xóa án tích.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979