Ngoại tình không chỉ là vấn đề đạo đức mà còn tiềm ẩn những hệ lụy pháp lý nghiêm trọng. Nhằm bảo vệ sự bền vững của hôn nhân và gia đình, pháp luật Việt Nam đã đặt ra các chế tài rõ ràng, xử lý nghiêm minh đối với hành vi này. Tùy theo mức độ vi phạm, người ngoại tình có thể bị xử lý hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong bài viết dưới đây, Luật Phúc Cầu sẽ giúp quý khách hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý hiện hành liên quan đến hành vi ngoại tình.
Căn cứ pháp lý:
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;
- Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
1. Ngoại tình được hiểu như thế nào?
Theo Khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình
…
Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
…”
Như vậy, việc chung sống như vợ chồng với người khác trong khi đang có vợ/chồng được xem là hành vi ngoại tình. Đây là hành vi bị cấm theo quy định của pháp luật và bị xử phạt.
XEM THÊM : CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
2. Người có hành vi ngoại tình sẽ bị xử lý như thế nào?
2.1. Xử lý hành chính
Căn cứ khoản 1 Điều 59 Nghị định 82/2020/NĐ-CP, quy định:
“Điều 59. Hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng
Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:
a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
đ) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
…”
Có thể thấy hành vi ngoại tình với người đã có gia đình hoặc đã có gia đình mà ngoại tình với người khác, nếu bị phát hiện có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
2.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng:
“Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.”
Như vậy, người nào đang có vợ/chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ/chồng với người khác hoặc người chưa có vợ/chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ/chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng mà dẫn đến cho:
- Hôn nhân của một hoặc cả hai bên ly hôn hoặc đã bị xử phạm vi phạm hành chính về hành vi mà vẫn vi phạm thì vị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng 01 năm.
- Làm cho vợ/chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát hoặc đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ/chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì thì bị phạt từ từ 06 tháng đến 03 năm.


