Trong thực tế, nhiều cặp đôi lựa chọn chung sống như vợ chồng mà không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, việc này tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý liên quan đến quyền lợi nhân thân, tài sản và con cái.
Cơ sở pháp lý:
– Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS);
– Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (HNGĐ);
1. Quan hệ hôn nhân không được pháp luật công nhận
Theo Luật hôn nhân và gia đình 2014, chỉ khi hai bên đáp ứng điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì pháp luật mới công nhận quan hệ vợ chồng hợp pháp, đồng thời được hưởng những quyền lợi theo quy định.
Trường hợp hai bên chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn sẽ không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ khi có phát sinh tranh chấp.
2. Không được pháp luật bảo vệ khi có “người thứ ba”
Theo khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ, một trong những hành vi bị cấm, đó là: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
Và khoản 1 Điều 19 Luật HNGĐ quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”
Như vậy, pháp luật bảo vệ quyền lợi cho mối quan hệ vợ chồng hợp pháp. Nếu vi phạm nguyên tắc chung thủy trong hôn nhân, người vi phạm có thể sẽ bị xử lý vi phạm hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, do không được pháp luật công nhận nên trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng sẽ không tồn tại những quyền và nghĩa vụ pháp lý như trên. Theo đó, nếu xuất hiện “người thứ ba”, quyền lợi của người sống chung như vợ chồng sẽ không được bảo vệ.
3. Rủi ro về tài sản chung
Trong thời gian chung sống, hai bên có thể cùng tạo lập tài sản (nhà đất, xe, tiền gửi,…). Nhưng nếu không đăng ký kết hôn, tài sản đó không mặc nhiên được xem là tài sản chung vợ chồng.
Căn cứ Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”
Theo đó, đối với việc phân chia tài sản khi không đăng ký kết hôn sẽ do hai bên tự thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, việc phân chia tài sản sẽ dựa trên công sức đóng góp, hợp đồng mua bán, chứng từ sở hữu,…. Tuy nhiên, việc này khó để chứng minh và dễ mất quyền lợi.
4. Quyền, nghĩa vụ đối với con cái
Mặc dù, con sinh ra trong thời kỳ sống chung vẫn được pháp luật bảo vệ quyền lợi, nhưng thủ tục xác định cha, mẹ có thể phức tạp:
– Người cha cần làm thủ tục nhận con theo quy định.
– Nếu có tranh chấp về quyền nuôi con, việc không có giấy đăng ký kết hôn có thể gây khó khăn cho việc giải quyết.
5. Hạn chế về quyền thừa kế
Do không là vợ chồng hợp pháp nên nếu một bên qua đời, người còn lại không đương nhiên được hưởng thừa kế theo pháp luật dưới tư cách là vợ/ chồng theo quy định tại Điều 651 BLDS . Muốn hưởng di sản thừa kế phải có di chúc hợp pháp hoặc chứng minh được công sức tạo lập tài sản đó. Việc này dễ phát sinh tranh chấp đối với các thành viên gia đình của người vợ/chồng đã mất, nhất là tài sản có giá trị cao.
—Xem thêm: Chung sống như vợ chồng có được hưởng thừa kế của nhau không?—


