RÚT ĐƠN YÊU CẦU THI HÀNH ÁN CÓ YÊU CẦU LẠI ĐƯỢC KHÔNG?

Rút đơn yêu cầu thi hành thì có yêu cầu lại được không? Đã có quyết định thi hành án thì khi rút đơn yêu cầu thi hành án có phải chịu phí thi hành án không? Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ giải đáp thắc mắc trên cho Quý Khách hàng: 

Cơ sở pháp lý:

  • Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung 2014);
  • Thông tư 216/2016/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành

1. Thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự

Căn cứ theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2008 quy định về thời hiệu yêu cầu thi hành án như sau:

“1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.”

Như vậy, người được thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án dân sự đối với cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp khác, thời hạn yêu cầu thi hành án dân sự được xác định như sau:

– Thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định: Thời hạn yêu cầu thi hành án dân sự là 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

– Bản án, quyết định thi hành theo định kỳ: Thời hạn yêu cầu thi hành án dân sự là 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

*Lưu ý: Các thời gian sau không được tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự:

– Thời gian hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định pháp luật, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

– Thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng nếu người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn.

2. Rút đơn yêu cầu thi hành án thì có được yêu cầu lại không?

Theo Điều 50 Luật Thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung 2014) quy định:

“ Đình chỉ thi hành án

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định đình chỉ thi hành án trong trường hợp sau đây:

a) Người phải thi hành án chết không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế;

b) Người được thi hành án chết mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;

c) Đương sự có thỏa thuận bằng văn bản hoặcngười được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba;

Kết thúc thi hành án

Việc thi hành án đương nhiên kết thúc trong trường hợp sau đây:

1. Có xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình.

2. Có quyết định đình chỉ thi hành án.”

Theo đó, khi đã rút đơn yêu cầu thi hành án có nghĩa đã yêu cầu đình chỉ toàn bộ việc thi hành án nên không được yêu cầu thực hiện lại thi hành án.

3. Rút đơn yêu cầu thi hành án khi đã có quyết định thi hành án thì có phải chịu phí thi hành án không?

Căn cứ khoản 4 Điều 4 Thông tư 216/2016/TT-BTC, mức thu phí thi hành án dân sự được quy định như sau:

“…

4. Đối với trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng chưa ra quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc đã ra quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng chưa thực hiện việc cưỡng chế thi hành án mà đương sự tự giao, nhận tiền, tài sản cho nhau thì người được thi hành án phải nộp 1/3 mức phí thi hành án dân sự quy định tại khoản 1 Điều này tính trên số tiền, tài sản thực nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 6 Thông tư này.

…”

Như vậy, khi cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành án nhưng chưa ra quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc đã ra quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng chưa thực hiện, đồng thời vào thời điểm này, bên phải thi hành án đã tự giao, nhận tiền, tài sản cho bên được thi hành án và bên được thi hành án rút đơn yêu cầu thi hành án thì vẫn phải chịu 1/3 mức phí thi hành án.

Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bài viết khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ pclawfirm.vn@gmail.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979