XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ VÀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ

Ngày nay, với tiềm năng của sự phát triển kinh tế – xã hội tại Việt Nam thì những tài sản trí tuệ đang dần trở thành tài sản quý báu, có vai trò quyết định đối với cuộc sống con người. Trong đó, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân về việc định đoạt các tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Tuy nhiên, hiện nay hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ nói chung và xâm phạm quyền tác giả nói riêng đang ngày càng diễn ra khá phức tạp. Bài viết sau đây của Luật Phúc Cầu sẽ giúp Quý khách hàng hiểu rõ hơn như thế nào là “hành vi xâm phạm quyền tác giả”.

Căn cứ pháp lý:

  • Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); 
  • Nghị định 131/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan.

 1. Quyền tác giả là gì?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.

Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2009) thì “đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa”.

Như vậy, quyền tác giả có ý nghĩa và vai trò vô cùng quan trọng đối với các tác phẩm.

2. Hành vi xâm phạm quyền tác giả là gì?

Hành vi xâm phạm quyền tác giả có thể hiểu là việc làm xâm hại đến bản quyền tác giả, chẳng hạn như hành vi chiếm đoạt, sao chép, mạo danh tác giả, công bố, phân phối tác phẩm, sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào mà không có sự đồng ý của tác giả hoặc chủ sở hữu đó.

Theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022) quy định về “Hành vi xâm phạm quyền tác giả”:

– Xâm phạm quyền nhân thân (quyền đặt tên, đứng tên các tác phẩm, công bố tác phẩm,…)

– Xâm phạm quyền tài sản (quyền làm tác phẩm phái sinh, biểu diễn, phân phối, phát sóng,…)

– Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ về xin phép, trả tiền,…

– Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm của mình.

– Sản xuất, phân phối, nhập khẩu, chào bán, bán, quảng bá, quảng cáo, tiếp thị, cho thuê hoặc tàng trữ nhằm mục đích thương mại các thiết bị, sản phẩm hoặc linh kiện, giới thiệu hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó được sản xuất, sử dụng nhằm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu bảo vệ quyền tác giả.

– Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

– Cố ý phân phối, nhập khẩu để phân phối, phát sóng, truyền đạt hoặc cung cấp đến công chúng bản sao tác phẩm khi biết hoặc có cơ sở để biết thông tin quản lý quyền đã bị xóa, gỡ bỏ, thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả; khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật.

– Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quy định để được miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian.

3. Căn cứ xem xét hành vi xâm phạm quyền tác giả

  • Một là, đối tượng bị xem xét có thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền tác giả tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2022) hay không.
  • Hai là, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét hay không.
  • Ba là, người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể của quyền tác giả và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép sử dụng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ.
  • Bốn là, hành vi bị xem xét phải xảy ra ở Việt Nam.

4. Biện pháp xử lý tội xâm phạm quyền tác giả

4.1. Xử lý hành chính

Theo Điều 2 Nghị định 131/2013/NĐ-CP khung phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức:

– Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan đối với cá nhân là 250.000.000 đồng, đối với tổ chức là 500.000.000 đồng

– Mức phạt cụ thể đối với một số hành vi xâm phạm quyền tác giả theo Nghị định 131/2013/NĐ-CP

+ Đối với hành vi tự ý sửa chữa, cắt xén tác phẩm gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng

+ Đối với hành vi công bố tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng

+ Đối với hành vi sao chép tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng

+ Đối với hành vi cố ý xóa hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền tác giả dưới hình thức điện tử (áp dụng đối với bản gốc và bản sao tác phẩm phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.

– Ngoài ra, còn các hành vi khác và hình phạt bổ sung đối với từng hành vi khác nhau như:

+ Tịch thu, tiêu hủy, tái xuất tang vật vi phạm;

+ Cải chính công khai, sửa lại các nội dung sai lệch khi công bố;

4.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại điều 225 Bộ luật Hình sự năm 2015 về “Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan” như sau:

“Điều 225. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan

1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực

hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm:

a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình;

b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên;

d) Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500.000.000 đồng trở lên;

đ) Hàng hóa vi phạm trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm;

c) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”

4.3. Biện pháp dân sự

Theo Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì Tòa án áp dụng các biện pháp dân sự sau:

– Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

– Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

– Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

– Buộc bồi thường thiệt hại;

– Buộc tiêu hủy hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

Trên đây là phần tư vấn của Luật Phúc Cầu. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ pclawfirm.vn@gmail.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979