NGƯỜI PHẢI THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ ĐIỀU KIỆN NHƯNG CỐ TÌNH KHÔNG THI HÀNH ÁN XỬ LÝ NHƯ THẾ NÀO?

Sau khi Quyết định hoặc Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, đương sự có nghĩa vụ phải chấp hành. Tuy nhiên, đến giai đoạn thi hành án, một số trường hợp người phải thi hành án dù có điều kiện nhưng cố tình không chấp hành theo bản án. Điều này gây khó khăn và thiệt thòi cho bên được thi hành án. Vậy trong trường hợp này thì xử lý thế nào? Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ cung cấp thông tin cho Quý Khách hàng về vấn đề này: 

Cơ sở pháp lý:

  • Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi năm 2014);
  • Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

1. Thời hạn thi hành án

Theo Điều 45 Luật Thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi bởi khoản 19 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 quy định như sau:

“1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.

2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.”

* Trong đó: Tại Chương IV Luật Thi hành án Dân sự quy định về biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án, cụ thể:

Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm: Phong tỏa tài khoản; Tạm giữ tài sản, giấy tờ; Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.

Các biện pháp cưỡng chế thi hành án gồm: Khấu trừ tiền trong tài khoản; Thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; Khai thác tài sản của người phải thi hành án; Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ; Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.

Ngoài ra, theo khoản 1 Điều 46 Luật Thi hành án dân sự 2008 có quy định như sau:

“1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.

…”

Như vậy, thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc nhận được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án. Trong trường hợp hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người có nghĩa vụ phải thi hành án dân sự nhưng không chấp hành thì bị cưỡng chế thi hành án. Người được thi hành án có quyền yêu cầu chấp hành viên áp dụng các biện pháp bảo đảm hoặc biện pháp cưỡng chế thi hành án nêu trên.

2. Người phải thi hành án dân sự nhưng cố tình không thực hiện xử lý như thế nào?

Việc người phải thi hành án dân sự có điều kiện thi hành án nhưng cố tình không thực hiện là hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm mà hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

2.1. Xử phạt hành chính

Mức xử phạt hành chính đối với hành vi trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 64 Nghị định 82/2020/NĐ-CP như sau:

“Hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực thi hành án dân sự

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Không thực hiện công việc phải làm theo bản án, quyết định;

b) Không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định;

c) Trì hoãn thực hiện nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp có điều kiện thi hành án;

d) Cung cấp chứng cứ sai sự thật cho cơ quan thi hành án dân sự.

…”

Theo khoản 4, khoản 5 Điều 4 Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền như sau:

“Quy định về mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức

4. Mức phạt tiền quy định tại các Chương II, III, IV, V, VI và VII Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, trừ các điều quy định tại khoản 5 Điều này. Trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm hành chính như của cá nhân thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

5. Mức phạt tiền quy định tại các Điều 7, 8, 9, 16, 17, 24, 26, 29, 33, 39, 50, 53, 63, 71, 72, 73, 74 và 80 Nghị định này là mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức.

…”

Như vậy, người phải thi hành án dân sự mặc dù có điều kiện thi hành án dân sự nhưng không thực hiện thì có thể bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 3 triệu đến 5 triệu đồng đối với cá nhân và từ 6 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với tổ chức.

2.2. Xử lý hình sự

Trường hợp đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định hoặc bị xử phạt hành chính về hành vi không chấp hành án mà còn vi phạm, người phải thi hành án sẽ bị truy cứu TNHS về Tội không chấp hành án theo Điều 380 BLHS 2015.

“Điều 380. Tội không chấp hành án

1. Người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Chống lại chấp hành viên hoặc người đang thi hành công vụ;

b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

c) Tẩu tán tài sản.

3. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

Trường hợp trong bài viết có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bài viết khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ pclawfirm.vn@gmail.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979