LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG NHƯNG KHÔNG RÕ NƠI CƯ TRÚ CỦA BỊ ĐƠN LÀM THẾ NÀO?

Khi hôn nhân không đạt được mục đích chung sống cũng như mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn thì ly hôn là kết quả tất yếu. Tuy nhiên, việc ly hôn không phải lúc nào cũng thuận lợi, nhất là ly hôn đơn phương. Trong đó, ly hôn đơn phương nhưng không biết nơi cư trú của vợ/chồng cũng là một trong những khó khăn khi giải quyết ly hôn. Bài viết dưới đây của Luật Phúc Cầu sẽ giải đáp thắc mắc cho Quý khách hàng về vấn đề ly hôn đơn phương nhưng không rõ nơi cư trú của vợ/chồng:

Cơ sở pháp lý:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015– BLTTDS;
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 – BLDS;
  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành.

1. Nơi tòa án thụ lý giải quyết vụ án

Căn cứ Điều 36 BLTTDS 2015 quy định:

“Điều 36: Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu:

1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động trong các trường hợp sau:

a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản để giải quyết.

…”

—Xem thêm: Ly hôn đơn phương —

Nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện được hướng dẫn tại Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP như sau:

“3. Địa chỉ “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan…là địa chỉ người bị kiện…đã từng cư trú, làm việc hoặc có trụ sở mà người khởi kiện biết được gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh”.

Với trường hợp không rõ nơi cư trú thì có khả năng đơn khởi kiện sẽ bị trả lại. Tuy nhiên, theo điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS về việc “Trả lại đơn khởi kiện” quy định:

“Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện… nhưng họ thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.”

Như vậy, khi không xác định được nơi vợ/chồng cư trú thì vẫn có thể ly hôn và nộp hồ sơ tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết. Tuy nhiên, nguyên đơn cần phải thu thập chứng cứ như Hợp đồng lao động của bị đơn (nếu có) hoặc nếu không có thì cần phải xin xác nhận từ cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc có căn cứ khác chứng minh về địa chỉ làm việc của người vợ/chồng là chính xác để thay thế cho nơi cư trú. Cụ thể là xin xác nhận từ chính nơi làm việc của vợ/chồng hoặc xin xác nhận từ công an phường nơi có cơ quan trụ sở mà người chồng đang làm việc để có chứng cứ xác thực cung cấp cho Tòa án.

Nếu không có ai xác nhận và nguyên đơn đã thực hiện mọi biện pháp nhưng không thể thu thập được các chứng cứ nêu trên thì có quyền đề nghị Tòa án thu thập giúp theo quy định tại khoản 2 Điều 106 BLTTDS

2. Yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích để ly hôn

Trường hợp bị đơn mất tích mà không xác định được nơi cư trú thì bắt buộc phải yêu cầu Tòa án tuyên bố người này mất tích. Bởi căn cứ theo Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Trong đó, tại Điều 68 BLDS quy định một người chỉ bị tuyên bố là mất tích khi đáp ứng các điều kiện sau:

  • Điều kiện 1: Đã biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người này còn sống hay đã chết;
  • Điều kiện 2: Có yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

Như vậy, vợ hoặc chồng khi muốn yêu cầu ly hôn đơn phương thì phải gửi đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích đến Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất tích cư trú cuối cùng.

Sau khi nhận được quyết định tuyên bố một người mất tích của Tòa án thì nguyên đơn có thể gửi yêu cầu ly hôn đến Tòa án nơi người bị mất tích cư trú, làm việc cuối cùng.

—- Xem thêm: Thủ tục ly hôn đơn phương đối với công dân Việt Nam khi vợ hoặc chồng ở nước ngoài — 

Trên đây là phần tư vấn của Luật Phúc Cầu. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ luatsu@luatphuccau.com hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 0236.777.3979. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Zalo Chat Messenger Hotline 0236 777 3979