🛑 ÁN LỆ SỐ 34/2020/AL 🛑 VỀ QUYỀN LẬP DI CHÚC ĐỊNH ĐOẠT GIÁ TRỊ BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT TRONG TRƯỜNG HỢP ĐẤT BỊ NHÀ NƯỚC THU HỒI CÓ BỒI THƯỜNG

Thực tế hiện nay thường xảy ra trường hợp Quyền sử dụng đất của cá nhân bị Nhà nước thu hồi có bồi thường. Sau khi Quyền sử dụng đất bị thu hồi và trước khi được đền bù thì cá nhân là Chủ Quyền Sử Dụng Đất có được định đoạt giá trị bồi thường đó theo di chúc hay không? Hãy cùng Luật Phúc Cầu tìm hiểu thông qua bài viết sau đây.

1. Nguồn án lệ

Quyết định giám đốc thẩm số 58/2018/DS-GĐT ngày 27/9/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án dân sự “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” tại tỉnh Vĩnh Phúc giữa các bên:
• Nguyên đơn: ông Trần Văn Y;
• Bị đơn: Phòng công chứng M;
• Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyên Văn D1.

2. Khái quát nội dung án lệ

– Tình huống án lệ:
Quyền sử dụng đất do cá nhân tạo lập hợp pháp mà khi người đó còn sống, Nhà nước đã có quyết định thu hồi đất và việc thu hồi đất đó thuộc trường hợp được bồi thường.
– Giải pháp pháp lý:
Trường hợp này, phải xác định giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi được bảo đảm bằng giá trị bồi thường nên người có đất bị thu hồi có quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường đó.

3. Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ

Bộ luật Dân sự 2005, gồm các điều:
– Điều 163 – Tài sản;
– Điều 181 – Quyền tài sản;
– Điều 634 – Di sản;
– Điều 646 – Di chúc;
– Điều 648 – Quyền của người lập di chúc (tương ứng với khoản 1 Điều 105, Điều 115, Điều 612, Điều 624, Điều 626 BLDS 2015);
Luật Đất đai 2003:
– Điều 42 – Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi (tương ứng với Điều 74 Luật Đất đai 2013).

4. Tóm tắt nội dung vụ án

* Nguyên đơn là ông Trần Văn Y trình bày:

Thửa đất số 38, Tờ bản đồ số 13 tại khu M, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc có nguồn gốc là do ông nhận chuyển nhượng của cụ Nguyễn Thị C (tức T, T1) từ năm 1987. Việc chuyển nhượng có giấy xác nhận của UBND phường. Năm 1988, UBND phường đồng ý cho ông đứng tên thửa đất này và đổi sang một thửa đất khác vì thửa đất này giáp với đầm nước không tiện cho việc chăm sóc con nhỏ. Nhưng do không đủ điều kiện làm nhà nên ông không đổi đất nữa.
Năm 1998, ông và cụ C làm giấy tờ chuyển nhượng thửa đất trên với giá 140.000.000 đồng. Mặc dù việc trả tiền không được các bên viết giấy biên nhận, nhưng có 02 người là bà Nguyễn Thị B (đã chết) và bà Trần Thị K (ở xóm D, phường Đ) chứng kiến việc ông trả tiền cho cụ C. Khi chuyển nhượng ông và cụ C đã lập Hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 08/02/1998 và nộp tại UBND phường. Năm 2008, gia đình ông không ở trên thửa đất này nữa do đất bị giải phóng mặt bằng.
Năm 2009, giữa ông và gia đình cụ Nguyễn Văn D xảy ra tranh chấp đối với thửa đất trên. Năm 2013, ông được biết Phòng công chứng M đã công chứng Di chúc của cụ Nguyễn Văn D và công chứng Văn bản công bố di chúc của cụ D và cụ Nguyễn Thị T1 ngày 26/01/2011. Theo các văn bản trên thì cụ D có quyền sở hữu, sử dụng 1 phần thửa đất số 38, Tờ bản đồ số 13 khu M, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; ông Nguyễn Văn D1 là người được hường thừa kế của cụ D và cụ C đối với thửa đất số 38, Tờ bản đồ số 13 diện tích 299,8 m2 tại khu M. Việc công chứng này không đúng quy định của pháp luật và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình ông nên ông đề nghị Tòa án tuyên bố 02 văn bản công chứng trên vô hiệu.

* Bị đơn là Phòng công chứng M (do người đại diện) trình bày:

Ngày 14/01/2011, ông Nguyễn Văn D1 chở cụ Nguyễn Văn D đến Phòng công chứng M và yêu cầu công chứng di chúc của cụ D. Theo cụ D khai thì cụ và cụ T1 lấy nhau không đăng ký kết hôn (hôn nhân thực tế), cụ T1 không sinh nở được nên cụ D lấy người khác nhưng không ly hôn với cụ T1. Nhà và đất tại thửa đất số 38, Tờ bản đồ số 13 tại khu M là tài sản chung hợp nhất được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa cụ D và cụ C.
Về giấy tờ chứng minh tài sản kèm theo yêu cầu công chứng di chúc, cụ D và anh D1 xuất trình:
– Di chúc của cụ T1 đã được Ủy ban nhân dân phường S, huyện K, tỉnh Hưng Yên chứng thực theo đó cụ T1 công nhận tài sản trên (thửa đất 38, Tờ bản đồ số 13) là tài sản chung hợp nhất với cụ D nên cụ T1 chỉ công chứng di chúc phần của cụ Cho ông D1. Phòng công chứng M xét thấy di chúc của cụ T1 là hợp pháp.
– Giấy tờ mua bán (bản gốc) của cụ D mua của ông Đ (văn tự bán ruộng này có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T), sau đó đổi cho HTX N lấy thửa ruộng cánh đồng M, nay là thửa đất số 38, Tờ bản đồ số 13.
– Công văn số 405/UBND-TD của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giải quyết Khiếu nại của công dân.
– Công văn số 372/UBND-KNTC ngày 07/7/2011 của UBND thành phố V trả lời đơn của ông Nguyễn Văn D.
Hai văn bản này khẳng định thửa đất số 38, Tờ bản đồ số 13 là đất ở, là căn cứ để bồi thường giải phóng mặt bằng.
Tại thời điểm lập di chúc, mặc dù cụ D đã trên 90 tuổi nhưng vẫn còn tỉnh táo, minh mẫn, nhận thức rõ việc làm của mình. Cùng hàng thừa kế thứ nhất là vợ, con, bố, mẹ của cụ D chỉ còn lại một mình ông D1, không có ai còn vị thành niên, yếu, thiểu năng trí tuệ không tự nuôi sống được theo quy định của pháp luật dân sự vì vậy nên việc cụ D có di chúc trao tất cả phần tài sản của mình cho ông D1 là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật dân sự về di chúc. Sau khi xem xét các vấn đề nêu trên, Phòng công chứng M thấy rằng việc lập di chúc của cụ D là hoàn toàn chính đáng, nội dung di chúc đúng pháp luật nên Phòng công chứng đã làm di chúc cho cụ D. Ngày 15/01/2011, cụ D đã đến Phòng công chứng để điểm chỉ vào bản di chúc. Trước khi điểm chỉ, công chứng viên đã đọc lại toàn bộ nội dung di chúc cho cụ nghe, cụ hoàn toàn nhất trí.
Sau khi cụ D mất, bản di chúc của cụ có hiệu lực pháp luật, ông D1 đến Phòng công chứng yêu cầu công bố di chúc và Phòng công chứng đã tiến hành việc công bố theo quy định của pháp luật. Trong quá trình công chứng và công bố di chúc của cụ D, Phòng công chứng không nắm được thông tin thửa đất trên đang có tranh chấp. Quan điểm của Phòng công chứng là đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn D1 trình bày:

Bố ông là cụ D và mẹ ông là cụ C kết hôn năm 1957. Năm 1959, bố mẹ ông mua 01 mảnh đất của ông Đ ở xóm S, phường Đ, thị xã V. Do bố mẹ ông không có con chung nên khoảng năm 1969-1970 cụ C đồng ý cho cụ D lấy cụ H (mẹ đẻ của ông) sống ở khu M, phường N. Năm 1976, cụ D mua ngôi nhà số 24 N để làm nghề cắt tóc. Cụ T ở ngôi nhà 60 N, cụ D và cụ H ở khu M. Sau Khi sinh ra ông, cụ H mất. Năm 1968, cụ C bán nhà số 60 N và mua nhà ở phố C. Năm 1986, cụ C bán nhà ở phố C về Hưng Yên sống. Năm 1988, cụ C lại quay về V sống và làm nhà trên thửa đất ngõ 3 tô T. Nhưng vì mảnh đất này nhiều mồ mả nên cụ chuyển về sống ở khu M với cụ D và các con. Từ năm 2006, cụ C quay về Hưng Yên, ông và cụ D đến để quản lý thửa đất ở khu M nhưng ông Y không đồng ý. Việc ông Y đề nghị Tòa án tuyên bố 02 hai văn bản công chứng trên vô hiệu, ông không đồng ý.
Ngày 28/4/2014, TAND thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2014/DS-ST ngày 28/4/2014.
Ngày 12/5/2014, ông Nguyễn Văn D1 kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm.
Ngày 27/4/2015, TAND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành Bản án dân sự phúc thẩm số 23/2015/DS-PT.
Ngày 11/4/2016, ông Nguyễn Văn D1 có đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.

5. Nội dung án lệ

Nội dung án lệ được trích từ đoạn 5 phần Nhận định của Tòa án trong Quyết định giám đốc thẩm số 58/2018/DS-GĐT ngày 27/9/2018 của TAND cấp cao tại Hà Nội, cụ thể như sau:
“[5]… di sản của cụ D, cụ C để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 38, Tờ bản đồ số 13 đã bị thu hồi theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 21/7/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố V nhưng giá trị quyền sử dụng đất của người có đất bị thu hồi vẫn được pháp luật bảo đảm theo quy định của Luật Đất Đai nên hai cụ có quyền lập di chúc định đoạt tài sản trên cho ông D1…”

6. Sự cần thiết của án lệ

Án lệ đã gián tiếp khẳng định Giá trị bồi thường khi đất bị thu hồi là tài sản (quyền tài sản được pháp luật ghi nhận), điều này chưa được thể hiện rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Ngoài ra, án lệ đã giải quyết theo hướng người có đất bị thu hồi được định đoạt Giá trị bồi thường theo di chúc. Nhằm bổ sung cho quy định của pháp luật. Có thể thấy, nội dung án lệ hoàn toàn phù hợp với thực tế, giúp đưa ra hướng giải quyết cho các vụ việc có sự kiện pháp lý tương tự.

7. Trường hợp tương tự áp dụng án lệ

Nội dung án lệ làm căn cứ giải quyết cho các vụ việc có sự kiện pháp lý tương tự. Đối với án lệ 34/2020/AL, các trường hợp tương tự áp dụng như sau:
✔️ – Đối tượng bị thu hồi đất: trong án lệ là cá nhân, tuy nhiên đó có thể là Quyền sử dụng đất thuộc về hộ gia đình;
✔️ – Cách thức định đoạt giá trị bồi thường: ngoài định đoạt theo di chúc thì giá trị bồi thường này có thể được định đoạt khi chủ sở hữu còn sống: tặng cho, chuyển nhượng…
✔️ – Đối tượng được bồi thường: ngoài Quyền sử dụng đất ra thì đối tượng được bồi thường có thể là tài sản trên đất như nhà, cây… khi đất bị Nhà nước thu hồi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *